Cha Chabanon đã nhận bài sai đi Miền Truyền Giáo Huế, hồi đó gọi là Bắc Đàng Trong. Ngài rời Paris ngày 26 tháng 8 sau đó và lên đường cùng với 8 vị khác, trong số đó có cha Allo, cũng được sai đi Miền Truyền Giáo Huế như ngài.

Đức cha Caspar đã đặt vị thừa sai trẻ tại Cổ Vưu, gần Quảng Trị, ở với cha Bonin, là cha sở Giáo xứ quan trọng này và Bề trên giáo hạt Dinh Cát.

Cha Chabanon ở đó nơi trường học tốt lành vừa để học tiếng vừa khởi sự tìm hiểu các phong tục tập quán của xứ sở, vì cha Bonin là một vị tông đồ lão luyện, nói tiếng Việt rất giỏi và hoàn toàn thông suốt trong cách thực hành các việc đạo việc đời.
Vị phó xứ trẻ bắt tay vào việc một cách chuyên chăm và bền chí như bình thường, Các cố gắng của ngài đạt nhiều thành quả tốt đẹp đến nỗi sau 6 tháng, ngài vượt qua kỳ khảo hạch học tiếng Việt cách xuất sắc.Việc tập sự tông đồ của ngài kéo dài trong 3 năm. Sự quí chuộng sâu xa và tâm tình kính mến lúc bấy giờ ngài đã cảm nhận đối với vị thừa sai là người thầy đầu tiên của ngài, ngài vẫn giữ suốt đời. Quả thật cha Bonin là môt linh mục gương mẫu và giao tiếp dễ mến làm cho mọi người đều tôn kính như là một bậc tổ phụ.
Vào tháng 9 năm 1899, cha Chabanon được bổ nhiệm Điều hành (Directeur) Đại chủng viện. Ngài dạy triết học tại đó cho đến tháng 3 năm 1905, rồi được sai đi phía bắc Miền Truyền Giáo làm cha sở giáo xứ Tam Toà và Bề trên giáo hạt Quảng Bình.

Cho đến 3 năm sau, vào tháng 8 năm 1908, ngài đổi vào giáo xứ Di Loan và Bề trên giáo hạt Đất Đỏ, phía bắc tỉnh Quảng Trị.

Cũng năm đó, ngài được chọn làm cha Chính bởi Đức Cha Allys là người đã sẵn lòng được tấn phong để cai quản Miền Truyền Giáo. Cha Chabanon nhìn chung đã được xem như một trong những vị có khả năng nhất và đầy đủ nhất giữa các tay thợ tông đồ.
Ở Tam Toà cũng như ở Di Loan, ngài là mẫu gương cho các cha sở. Dầu có một cha phó, ngài không đổ trên vị này công việc chính ngài có thể làm. Ngài không ngừng dạy giáo lý cho các trẻ và ngồi toà giải tội nhiều ngày tròn. Trong nhiệm sở này cũng như ở nhiệm sở kia, ngài phải lo cho một tu viện lớn các nữ tu người Việt, ngài tích cực lo huấn luyện đường thiêng liêng cho họ.
Các họ nhánh Loan Lý và Hoà Ninh chỉ có nhà nguyện là những căn trại nghèo nàn mới đóng cửa. Ngài đã xây dựng cho họ hai nhà thờ lớn lợp ngói và đẹp đẽ. Ngài cũng đã nới rộng nhà xứ Di Loan, để có thể dể dàng tiếp đón các thừa sai và các linh mục bản xứ thường đến đó đông đúc để tham khảo ý kiến ngài.
Quả thực, ngoài các lo lắng chăm sóc các giáo xứ của chính ngài, ngài còn lo cho toàn giáo hạt gồm 15 giáo xứ, sắp đặt giải quyết các tranh chấp nảy sinh, kiểm tra các sổ sách, khảo hạch các trẻ trước Vỡ lòng và Thêm sức. Chính trong khi thi hành công cuộc mục vụ này rất được ngài ưa thích, ngài đã được bổ nhiệm làm Bề trên Đại chủng viện khoảng giữa năm 1918.
Cũng như vào những lần đổi chỗ trước, cha Chabanon chẳng nghĩ ngợi gì, mặc dầu ngài cảm thấy rất cực lòng phải xa những con chiên ngài đã rất gắn bó và chân thành yêu thương, ngài xếp đồ và hết lòng đơn sơ đi vào Huế, đến nhiệm sở mới của ngài.

Tại Đại chủng viện, ngài chỉ duy trì và tiếp tục công trình của các vị tiền nhiệm: quả thực cơ sở này đã được tổ chức từ nhiều năm dài theo các phương pháp khôn ngoan của Saint-Sulpice, về việc học cũng như đời sống thiêng liêng và tinh thần đang có nơi đó thật tuyệt vời. Cha Chabanon tránh làm đảo lộn bất cứ điều gì trong trật tự đã được thiết lập, nhưng ngài cũng làm việc không kém và còn làm nhiều.
Công trình của ngài thực hiện đi vào chiều sâu, không rộn ràng và với tình phụ tử: ngài thực thi một ảnh hưởng thấm nhập (influence pénétrante) các ứng viên cho chức linh mục và ngài được họ yêu mến. Qua những bài huấn đức và hơn nữa qua gương sống của ngài, ngài thúc đẩy họ sống các nhân đức nền tàng của người linh mục: khiêm tốn, siêu thoát, hy sinh, yêu thích cầu nguyện và học hành.
Người ta không hề thấy ngài ra mặt bên ngoài (se répandre au dehors). Làm việc không mệt mỏi, có thể nói được, ngài chẳng bao giờ rời bàn viết. Đồ dùng và tiện nghi trong phòng ngài không khác gì phòng các chủng sinh. Chẳng bao giờ người ta nghe ngài than phiền về điều gì hoặc về một ai.
Ngài rất khó đối với chính mình: những lần bị sốt (fièvre) thường xuyên vẫn không làm ngài thay đổi điều gì trong nhịp sống thường ngày. Những lúc đó, người ta vẫn thấy ngài ở phòng ăn, ngồi yên nghe đọc sách mà chẳng ăn gì, và ở trong lớp, giải thích bài học với một giọng yếu đi mà vẫn chịu khó cầm sách trong đôi tay run rẩy. Bị sốt lâu ngày làm cho bong võng mạc (décollement de la rétine) và làm cho ngài mất hẳn mắt trái năm 1924. Với người viết những hàng này khi bày tỏ tâm tình thông cảm đối với ngài, ngài trả lời cách đầy xây dựng như sau: “Tôi thực hiện câu :quotidie morior” ( mỗi ngày tôi phải đối diện với cái chết), (1Cr 15,31).
(Còn tiếp)
Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ